Tổng kết công tác năm 2017, phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2018

Đăng ngày 08 - 01 - 2018
100%

Năm 2017, là năm thứ hai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII; Tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã kịp thời phổ biến, quán triệt các chương trình, kế hoạch của tỉnh; xây dựng, ban hành 20 kế hoạch trên các mặt công tác để thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch của tỉnh, của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với nhiều giải pháp cải cách hành chính hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại các KCN trên địa bàn tỉnh đạt kết quả cao.

 

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2017

1. Về thực hiện nhiệm vụ chính trị

1.1. Về quy hoạch các KCN:

Trong năm, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận điều chỉnh Quy hoạch phát triển các KCN tỉnh, trong đó đưa KCN Vĩnh Khúc (180ha) và KCN Ngọc Long (100 ha) ra khỏi quy hoạch, bổ sung KCN Yên Mỹ với quy mô 280 ha vào quy hoạch phát triển các KCN cả nước đến năm 2020. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 10 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN cả nước với quy mô 2.481,45ha (chi tiết danh mục quy hoạch phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh tại đây), trong đó có 04 KCN đã đi vào hoạt động, là KCN Phố Nối A, KCN dệt may Phố Nối, KCN Thăng Long II và KCN Minh Đức với tổng diện tích đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết là 1.261,5ha; Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê tại các KCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đến nay là 679 ha, bằng 74,8% tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN (907,34 ha).

Hiện nay KCN đô thị Lý Thường Kiệt với quy mô 3.000ha  và KCN Phố Nối A mở rộng đang được trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung vào quy hoạch tổng thể phát triển các KCN. KCN Minh Quang đang trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh dự án đầu tư, và thực hiện các thủ tục để tiến hành thu hồi đất.

Đã thực hiện quyết định chấm dứt dự án đầu tư trước thời hạn đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Ngọc Long, và đang tiếp tục thực hiện thủ tục chấm dứt dự án đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng tại KCN Vĩnh Khúc.

1.2. Về tình hình đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN trên địa bàn tỉnh:

Hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN tiếp tục được các chủ đầu tư tích cực triển khai thực hiện, đảm bảo đầy đủ mặt bằng để sẵn sàng tiếp nhận các dự án vào đầu tư. Trong năm đã có thêm khoảng 160ha đất KCN được san lấp mặt bằng, xây dựng hạ tầng hạ tầng kỹ thuật KCN, trong đó KCN Phố Nối A khoảng 30 ha và KCN Dệt May Phố Nối khoảng 12ha, KCN Minh Đức khoảng 51,7ha, KCN Yên Mỹ II khoảng 70ha.

KCN Phố Nối A đã hoàn thành việc xây dựng nâng cấp nhà máy xử lý nước thải tập trung với công suất 6.000 m3/ng.đ, xử lý nước thải đạt cột A theo QCVN 40:2011-BTNMT. KCN Dệt may Phố Nối đã hoàn thành cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải khắc phục sự cố gây ô nhiễm, và đang hoàn thiện nâng cấp hệ thống để đảm bảo đạt Cột A QCVN 40:2011-BTNMT. KCN Thăng Long II đã đầu tư thêm một modun công suất 3.000 m3/ngày đêm, nâng tổng công suất trạm xử lý nước thải lên thành 9.000 m3/ngày đêm.

1.3. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh:

Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN đạt kết quả cao cả về thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Cả năm các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tiếp nhận thêm 46 dự án đầu tư mới: trong đó có 27 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 416 triệu USD và 19 dự án có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4.086 tỷ đồng. Điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 38 dự án đầu tư, trong đó 26 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với vốn điều chỉnh tăng 78 triệu USD và 12 dự án có vốn đầu tư trong nước, với vốn điều chỉnh tăng 501 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư cấp mới và điều chỉnh trong năm là 494 triệu USD (bằng 140 % kế hoạch của cả năm 2017 và tăng 33 % so với cùng kỳ năm 2016 về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và 4.587 tỷ đồng  (gấp 4,6 lần so với kế hoạch của cả năm 2017 và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2016 về thu hút đầu tư trong nước). Trong đó có một số dự án lớn, có khả năng đóng góp ngân sách cao như: Dự án nhà máy chế biến sữa NUTIFOOD Việt Nam II của Công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng NUTIFOOD Việt Nam (1.600 tỷ đồng), dự án nhà máy sản xuất ống đồng Toàn Phát số 2 của Công ty Cổ phần ống đồng Toàn Phát (730 tỷ đồng), dự án đầu tư mở rộng của Công ty ToTo Việt Nam,.… Bên cạnh đó, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã thực hiện chấm dứt hoạt động trước thời hạn cho 06 dự án và điều chỉnh giảm vốn đầu tư cho 04 dự án; tổng vốn đầu tư đăng ký giảm là 23 triệu USD và 135 tỷ đồng.

 Đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 349 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó 194 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 155 dự án có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3.265 triệu USD và 20.273 tỷ đồng.

1.4. Về tình hình hoạt động của các dự án đầu tư trong KCN:

Các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp tỉnh nhìn chung đều triển khai nhanh, đảm bảo theo tiến độ đăng ký và sử dụng đất hiệu quả. Trong năm tại các KCN trên địa bàn tỉnh đã có thêm 40 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng vốn đầu tư thực hiện trong năm ước đạt 350 triệu USD và 2.000 tỷ đồng. Như vậy đến nay tại các KCN, tổng số dự án đầu tư đang hoạt động sản xuất kinh doanh là 293 dự án, chiếm 85,1% trên tổng số dự án đầu tư còn hiệu lực (gồm 170 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 123 dự án có vốn đầu tư trong nước). Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án trong KCN đạt 2.660 triệu USD, bằng 89,4% tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có có vốn đầu tư nước ngoài và 14.000 tỷ đồng, bằng 68,8% tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có vốn đầu tư trong nước. Dự kiến đến hết năm 2017, doanh thu của các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh ước đạt 4,5 tỷ USD, giá trị xuất khẩu khoảng 2,2 tỷ USD, giá trị nhập khẩu khoảng 1,5 tỷ USD, thu ngân sách nội địa khoảng 1.800 tỷ đồng. Các dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh giải quyết việc làm với thu nhập ổn định cho trên 47.000 lao động.

1.5. Công tác kiểm tra, giám sát tại các KCN:

Hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp của các doanh nghiệp, KCN được tăng cường, thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát trực tiếp tại doanh nghiệp và thông qua báo cáo giám sát đầu tư, báo cáo quan trắc môi trường định kỳ. Trong năm, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, xây dựng đối với 56 lượt dự án; phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh thanh tra, kiểm tra đối với 15 dự án, phối hợp với Phòng Cảnh sát PCCC & CNCH - Công an tỉnh kiểm tra 12 doanh nghiệp và 02 chủ đầu tư hạ tầng KCN về công tác phòng cháy, chữa cháy. Nhìn chung, các doanh nghiệp đã thực hiện tốt các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, còn có doanh nghiệp chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật, như: Thực hiện quan trắc, phân tích chưa đảm bảo, chưa đầy đủ; chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về thu gom, quản lý, xử lý chất thải; xả khí thải vượt tiêu chuẩn; xả nước thải vào hệ thống thoát nước mưa; xây dựng công trình khi chưa có Giấy phép xây dựng, xây dựng công trình không đúng Giấy phép xây dựng, không tổ chức nghiệm thu chuyển giai đoạn theo quy định, chưa lập bản vẽ hoàn công hạng mục công trình. Qua kiểm tra Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã hướng dẫn, đôn đốc doanh nghiệp khắc phục các tồn tại, thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

1.6. Công tác tuyên truyền phố biến pháp luật:

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được tăng cường, thông qua nhiều hình thức như: Ban hành văn bản gửi doanh nghiệp, trực tiếp thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, thông qua việc đăng tải các văn bản pháp luật trên Cổng thông tin điện tử của Ban, gửi văn bản đến doanh nghiệp hoặc qua địa chỉ email và thông qua việc tổ chức hội nghị. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã tổ chức 02 hội nghị tập huấn về môi trường cho khoảng 250 đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp; rà soát, tập hợp hơn 150 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thuộc các lĩnh vực bảo vệ môi trường, quy hoạch xây dựng, lao động, đầu tư đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan; ban hành khoảng 60 văn bản đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường,… Qua đó, nhận thực, ý thức chấp hành pháp luật trong quá trình đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong khu công nghiệp được nâng lên.

1.7. Về thực hiện nhiệm vụ UBND tỉnhChủ tịch UBND tỉnh giao:

Năm 2017, Ban Quản lý các khu công nghiệp đã được UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh giao 71 nhiệm vụ (11 nhiệm vụ giao qua phần mềm và 60 nhiệm vụ không qua phần mềm). Kết quả đến nay đã hoàn thành 70 nhiệm vụ (11 nhiệm vụ giao qua phần mềm và 59 nhiệm vụ không qua phần mềm), trong đó đúng hạn 70 nhiệm vụ (đạt 100%), không có nhiệm vụ quá hạn, còn lại 1 nhiệm vụ đang triển khai thực hiện chưa đến thời hạn.

2. Về thực hiện cải cách hành chính:

- Về tham gia xây dựng văn bản pháp luật: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã tích cực tham gia xây dựng văn bản pháp luật, trong năm đã tham gia vào 07 dự thảo văn bản pháp luật của Bộ, của tỉnh (có phụ lục kèm theo).

- Về cải cách thủ tục hành chính: Hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh được duy trì thực hiện nghiêm túc. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã kịp thời cập nhật, xây dựng 26 thủ tục hành chính trong Lĩnh vực Đầu tư tại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban, trình Chủ tịch UBND tỉnh công bố, trong đó đã đề xuất cắt giảm thời gian giải quyết so với quy định từ 02 đến 07 ngày làm việc đối với 09 thủ tục hành chính; Đã tham mưu để UBND tỉnh gia hạn hoạt động của Bàn Hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản tại Hưng Yên để hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp về thủ tục đầu tư, qua đó đã  rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Hoạt động công khai bộ thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai, kết quả tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính được duy trì thực hiện. Trong năm đã tiếp nhận, giải quyết 539 thủ tục hành chính, trong đó có 535 hồ sơ giải quyết đúng hoặc sớm hơn thời hạn quy định, chiếm 99,26%; 04 hồ sơ giải quyết quá thời hạn quy định, chiếm 0,74%. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh không nhận được phản ánh, kiến nghị nào của doanh nghiệp về quy định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền theo quy định.

- Về xây dựng tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức:

Công tác xây dựng tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức được chú trọng. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã ban hành sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc, nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của cơ quan, đơn vị. Thực hiện quy trình bổ nhiệm lại Chánh văn phòng và Trưởng Phòng Quản lý Đầu tư, bổ nhiệm mới một Phó Chánh văn phòng và Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ hỗ trợ đầu tư; Trình xác nhận kết quả rà soát, bổ sung quy hoạch Cán bộ diện Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý năm 2017; đề nghị Sở Nội vụ thỏa thuận xác nhận quy hoạch cán bộ diện các sở, ngành quản lý năm 2017. Xây dựng Đề án Vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2018- 2020, Kế hoạch biên chế công chức năm 2018 của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên và đã gửi Sở Nội vụ thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy đinh. Tiếp nhận 01 công chức theo điều động; xét, đề nghị nâng lương thường xuyên cho 04 công chức, viên chức, lao động; nâng lương trước thời hạn cho 02 công chức, lao động. Quá trình thực hiện đã đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch đúng quy trình, quy định, đúng đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn.

Bên cạnh đó, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tiếp tục tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã cử 24 lượt cán bộ công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức; phổ biến, quán triệt 13 chỉ thị, nghị quyết, quy định, chương trình, kết hoạch của trung ương, của tỉnh đến đảng viên, công chức, viên chức, lao động (có phụ lục kèm theo).

- Về hiện đại hóa hành chính: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan. Duy trì hoạt động của Hệ thống dịch vụ công trực tuyến và Hệ thống eCOSys tại trang thông tin điện tử www.ecosys.gov.vn để cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với 50 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết; ứng dụng Phần mềm quản lý văn bản và điều hành tỉnh, Cổng thông tin điện tử để phục vụ công tác quản lý, điều hành; tiếp nhận, giải quyết TTHC; công khai toàn bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban; các quy định của pháp luật, các chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, tình hình hoạt động của Ban, của các khu công nghiệp; Đầu tư trang bị bổ sung, thay thế một số máy vi tính; nâng cấp phần mềm ứng dụng cung cấp dịch vụ công trực tuyến SEG của Ban. Ngoài ra, Ban còn phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh xây dựng kênh thông tin bằng tiếng Anh trên Cổng thông tin điện tử của Ban và đã đăng tải thông tin bằng tiếng Anh về các chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý, quy hoạch phát triển các KCN, các dự án đầu tư vào KCN, công khai toàn bộ các thủ tục hành chính,… nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận và khai thác thông tin.

Bên cạnh đó, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tiếp tục duy trì và cải tiến nâng cấp Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2015 để quản lý tốt hơn các quy trình giải quyết công việc, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.

- Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động có hiệu quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tập trung để tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; thực hiện liên thông với Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư trong giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký kinh doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trong năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho 216 lượt hồ sơ thủ tục hành chính, chiếm 40% tổng số thủ tục hành chính tiếp nhận trong năm. Thực hiện theo cơ chế liên thông trong đăng ký đầu tư và đăng ký  doanh nghiệp đối với 09 hồ sơ dự án của nhà đầu tư nước ngoài. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính. 

3. Thực hiện quy chế dân chủ, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí:

- Về thực hiện quy chế dân chủ: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tiếp tục quán triệt thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ quan; thực hiện nghiêm túc Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan đã ban hành. Duy trì thực hiện họp giao ban hàng tháng; thực hiện đánh giá công chức, lao động trên các mặt công tác hàng tháng theo đúng quy chế. Kịp thời phổ biến, quán triệt, thông báo đến công chức, viên chức, lao động cơ quan các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của trung ương, của tỉnh liên quan đến hoạt động của cơ quan; các chương trình đào tạo, bồi dưỡng... theo quy định, để công chức, viên chức, lao động cơ quan nắm được các nội dụng, trách nhiệm thực hiện, giám sát việc thực hiện tại cơ quan; các kiến nghị của công chức, viên chức, lao động và doanh nghiệp được kịp thời giải quyết, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, trong năm Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh không nhận được đơn, thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, và cũng không có vụ việc khiếu nại, tố cáo nào tồn động chưa được giải quyết.

- Về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí: Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được chú trọng. Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã thực hiện nghiêm túc các quy định về công khai chế độ chính sách, sử dụng ngân sách, tài sản công. Trong năm đã thực hiện công khai Dự toán ngân sách được giao và quyết toán tài chính; Xây dựng kế hoạch phân bổ dự toán chi ngân sách của năm để tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy định. Hoàn thiện quyết toán Dự án cải tạo nâng cấp trụ sở làm việc của Ban; đang thực hiện Dự án đầu tư xây dựng cải tạo nhà xe kết hợp nhà kho của Ban, đến nay đã cơ bản hoàn thiện, giải ngân đúng tiến độ, không để tình trạng nợ đọng. Việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước được thực hiện đúng tiêu chuẩn, định mức, hiệu quả, tiết kiệm theo đúng quy định của pháp luật, Quy chế Chi tiêu nội bộ, quản lý, sử dụng tài sản công và Quy trình mua sắm. Năm 2017, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã tiết kiệm được khảng 240 triệu đồng từ khoán chi thường xuyên để chi bổ sung thu nhập cho công chức, lao động cơ quan.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Nhìn chung, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh đã kịp thời triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch của tỉnh; xây dựng các kế hoạch cụ thể để thực hiện và đã cơ bản đã hoàn thành các nhiệm vụ đề ra trong năm 2017 bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tiến độ. Hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN tiếp tục được các chủ đầu tư tích cực triển khai thực hiện; thu hút đầu tư vào các KCN đạt kết quả cao; các dự án đầu tư trong KCN triển khai nhanh, cơ bản bảo đảm theo tiến độ đăng ký và sử dụng đất hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp của các doanh nghiệp, KCN được tăng cường; công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan tiếp tục được đẩy mạnh; việc thực quy chế dân chủ, công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả,… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong năm 2017 vẫn còn một số hạn chế:

- Các KCN Kim Động, Minh Quang triển khai còn chậm so với dự kiến. Nguyên nhân: Các thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng cho KCN Kim Động kéo dài. KCN Minh Quang đang chờ Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

- Việc triển khai đầu tư xây dựng đường ĐH13 (đoạn qua KCN Phố Nối A mở rộng) đường gom KCN Phố Nối A còn chậm. Nguyên nhân: Chủ đầu tư hạ tầng KCN chưa tích cực, tập trung đầu tư nhân lực vật lực để đầu tư xây dựng.

- Vẫn còn hiện tượng xả khí thải, nước thải vượt tiêu chuẩn, gây ô nhiễm môi trường; một số ít doanh nghiệp triển khai xây dựng khi chưa được cấp phép theo quy định. Nguyên nhân: Do ý thức chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp còn hạn chế; công tác phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý vi phạm chưa nhịp nhàng và chưa nghiêm.

- Công tác PCCC tại các KCN còn một số hạn chế: Chưa tổ chức thực tập phương án chữa cháy tại trụ sở; Chủ đầu tư hạ tầng KCN Thăng Long và KCN Phố Nối A chưa thành lập đội PCCC chuyên ngành theo quy định; chưa thiết kế xây dựng các bến lấy nước cho các xe chuyên dụng PCCC. Nguyên nhân: Do kinh phí ngân sách cấp hàng năm còn hạn hẹp, thiếu các phương tiện PCCC do vậy việc thực tập PCCC rất khó khăn; Công tác phối hợp giữa Ban Quản lý các KCN với Công an tỉnh và các chủ đầu tư hạ tầng KCN chưa chặt chẽ.

- Chưa kịp thời ban hành Quy chế nội bộ đảm bảo an toàn an ninh thông tin mạng theo quy định. Nguyên nhân: do bộ phận tham mưu về công nghệ thông tin chưa tập trung nghiên cứu, còn lúng túng chuyên môn nghiệp vụ, lãnh đạo phụ trách chưa sát sao công việc.

- Việc thực hiện công bố, công khai Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 Ban còn chưa được thực hiện. Nguyên nhân công chức chưa tích cực trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản của Hệ thống sau đánh giá nội bộ.

- Còn có doanh nghiệp chưa được thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường. Nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp còn hạn chế, trong khi việc xử lý các trường hợp vi phạp chưa kịp thời, hoạt động kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả.

- Chất lượng trong công tác đôn đốc và thụ lý báo cáo thống kê vẫn chưa có nhiều chuyển biến rõ rệt; các biện pháp hướng dẫn, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm trong công tác báo cáo thống kê đạt hiệu quả còn thấp. Vẫn còn một số lượng lớn doanh nghiệp không thực hiện gửi báo cáo về Ban; một số doanh nghiệp gửi báo cáo nhưng chưa đảm bảo về chất lượng.

- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, một công chức, lao động làm việc chưa hiệu quả, chất lượng còn hạn chế, còn có công việc giải quyết chưa đảm bảo tiến độ và có sai sót. Nguyên nhân chủ yếu do một số công chức thiếu tinh thần tự giác, chưa tích cực chủ động trong việc nghiên cứu học tập lý luận, các nghị quyết của Đảng và cập nhật các quy định mới của nhà nước, phương pháp làm việc chưa khoa học, thiếu tính sáng tạo.

III. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2018

Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, trong năm 2017, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh tập trung thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ sau:

1. Tiếp tục phối hợp với các huyện Mỹ Hào, Kim Động để hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng các KCN Minh Quang, Kim Động triển khai giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng; đôn đốc chủ đầu tư hạ tầng KCN Phố Nối A đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng đường ĐH13 (đoạn qua KCN Phố Nối A mở rộng); đường gom KCN Phố Nối A; tiếp tục đôn đốc Cty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối hoàn thiện cơ sở hạ tầng KCN giai đoạn II, nhất là hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải của KCN.

2. Phối hợp chặt chẽ với các chủ đầu tư hạ tầng KCN, các tổ chức tư vấn xúc tiến đầu tư vận động thu hút đầu tư vào các KCN. Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác thu hút đầu tư, ưu tiên thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, có khả năng đóng góp nhiều cho ngân sách. Phần đấu thu hút thêm khoảng 35 dự án đầu tư. Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh tăng khoảng 300 triệu USD và 2.000 tỷ đồng.

3. Theo dõi, đôn đốc, hỗ trợ và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vưỡng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh. Phần đấu có thêm khoảng 25 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 300 triệu USD và 2.500 tỷ đồng; doanh thu đạt khoảng 4.600 triệu USD, giá trị xuất khẩu là 2.400 triệu USD giá trị nhập khẩu khoảng 1.600 triệu USD, thu ngân sách nội địa khoảng 2.000 tỷ đồng, tạo thêm việc làm mới cho khoảng 1.500 lao động.

4. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai các quy định của pháp luật có liên quan đến doanh nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhất là các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy hoạch xây dựng, trong đó tổ chức 02 hội nghị tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.

5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, quy hoạch, xây dựng. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành trong kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm.  

6. Phối hợp với Công an tỉnh đôn đốc, hướng dẫn các chủ đầu tư hạ tầng KCN Thăng Long và KCN Phố Nối A thành lập đội PCCC chuyên ngành theo quy định; thiết kế và xây dựng các bến lấy nước cho các xe chuyên dụng PCCC.

7. Thực hiện tốt chủ trương Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát triển. Xây dựng, thực hiện chương trình hỗ trợ cung cấp thông tin, kết nối doanh nghiệp nhằm tăng cường hợp tác, gắn kết giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, để khu vực kinh tế này trở thành động lực trong phát triển kinh tế, lực lượng nòng cốt trong hội nhập kinh tế quốc tế.

8. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong các kế hoạch của Ban về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, …. Trong đó tập trung cải thiện môi trường đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính mà trọng tâm là rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa nội dung hồ sơ, cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

9. Đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó tập trung cải cách thủ tục hành chính; rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa nội dung hồ sơ, cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính; duy trì trên 50% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban được cắt giảm từ 30%-70% thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với quy định của pháp luật. Rà soát, đánh giá các quy định, thủ tục hành chính để kiến nghị sửa đổi, bổ sung đơn giản hóa. Cập nhật các thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ được các bộ, ngành trung ương công bố, xây dựng, trình công bố và thực hiện công khai theo quy định.

10. Ban hành sửa đổi, bổ sung quy chế đánh giá công chức, viên chức, lao động; ban hành mới Quy chế đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh.

11. Đào tạo, bồi dưỡng công chức, người lao động cơ quan nhằm nâng cao năng lực, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, tinh thần trách nhiệm với công việc, thái độ phục vụ doanh nghiệp. Kiểm tra, giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết công việc, thủ tục hành chính của công chức; kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm, có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà đối với doanh nghiệp. Duy trì thực hiện tốt việc phòng chống tham nhũng, lãng phí trong mọi hoạt động của cơ quan. Thực hiện chi tiêu ngân sách được giao bảo đảm triệt để tiết kiệm, đúng quy định; cắt giảm tối đa các khoản chi xăng xe, khánh tiết, hội nghị, điện, nước.

12. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành và thực thi công vụ để nâng cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian giải quyết công việc và công khai, minh bạch trong các hoạt động công vụ. Duy trì hoạt động hiệu quả Cổng thông tin điện tử, Hệ thống dịch vụ công trực tuyến để công khai quy trình tự đăng ký đầu tư vào các KCN, bộ thủ tục hành chính; kết quả tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; địa chỉ tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về hành vi hành chính, quy định hành chính; các quy định của pháp luật và các chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý; quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, tình hình hoạt động của Ban, của khu công nghiệp. Ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành trong chỉ đạo, điều hành, bảo đảm 100% công việc được tiếp nhận, và giải quyết được thực hiện qua phần mềm quản lý văn bản và điều hành. Áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001-2015 trong hoạt động của cơ quan, hoàn thiện các văn bản của Hệ thống để công bố, công khai theo quy định.

13. Đầu tư nâng cấp các trang thiết bị, máy móc cho các phòng làm việc, bộ phận, công chức thuộc Ban để đáp ứng yêu cầu công việc, phù hợp với Quyết định 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính Phủ về quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập và quy định của pháp luật.

14. Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh; Bàn hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản tại Hưng Yên, Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Ban, để tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, công khai, minh bạch quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, công khai, minh bạch quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.

Tin mới nhất

Thông báo số 562/TB-BQL ngày 3/7/2019 về việc phân công nhiệm vụ lãnh đạo Ban Quản lý các khu...(12/07/2019 4:23 CH)

Ủy quyền điều hành và giải quyết công việc của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh.(04/09/2018 7:42 SA)

Triển khai các hoạt động thuộc “Tháng hành động vì môi trường” hưởng ứng Ngày môi trường thế giới...(14/05/2018 12:44 CH)

°
2146 người đang online