Nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng lao động.

Hưng Yên là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh chóng ở khu vực phía Bắc, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp (KCN). Theo quy hoạch của tỉnh Hưng Yên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 489/QĐ-TTg ngày 10/6/2024, đến năm 2030 quy hoạch toàn tỉnh có 30 KCN (gồm 17 KCN đã có trong quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, 13 KCN tiềm năng quy hoạch mới) với tổng diện tích khoảng 9.589 ha. Sau năm 2030, quy hoạch thêm 05 KCN tiềm năng với tổng diện tích khoảng 2.460 ha.Đến nay,trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã có 10 KCN đang hoạt động, thu hút 656 dự án đầu tư gồm 375 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 281 dự án có vốn đầu tư trong nước.Các dự án đầu tư trong các KCN đã tạoviệc làm ổn định cho trên 84.000 lao động, tập trung chủ yếu tại KCN Phố Nối A, KCN Thăng Long II và KCN Dệt May Phố Nối, trong đó lao động là người địa phương chiếm khoảng 55% (42.000 người), còn lại là lao động ngoại tỉnh.Dự kiến trong thời gian tới, trung bình mỗi năm tại các KCN sẽ có thêmkhoảng 40 dự án đầu tư mới đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh và có nhu cầu tuyển dụng lao động bình quân khoảng 3000 người/năm.

Trong thời gian qua, công tác tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh khá thuận lợi do nguồn cung lao động khá dồi dào, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đảm bảo nguồn cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới sẽ gặp một số khó khăn như: Nguồn cung lao động tại chỗ (người địa phương) ngày càng ít; Việc thu hút lao động tỉnh ngoài đến làm việc sẽ khó khăn hơn do sự cạnh tranh của các tỉnh lân cận ngày càng gay ngắt, người lao động có xu hướng chuyển dịch nơi làm việc về gần nơi sinh sống; Khó giữ chân người lao động tỉnh ngoài ở lại làm việc ổn định, lâu dài do thiếu nhân tố hấp dẫn về khoảng cách địa lý, hạ tầng giao thông chưa thực sự thuận tiện, hạ tầng xã hội chưa đầy đủ (thiếu các công trình nhà ở xã hội, ký túc xá cho công nhân, trường học, cơ sở y tế, khu vui chơi, giải trí,...); ... Bên cạnh đó, mức thu nhập, đãi ngộ cho người lao động của các doanh nghiệp KCN tỉnh của Hưng Yên không có nhiều sự khác biệt so với các tỉnh lân cận.

Từ thực tế nguồn cung lao động, dự báo về nhu cầu lao động trong thời gian tới và thực tế công tác tuyển dụng, sử dụng lao động của các doanh nghiệp KCN thời gian qua đã đặt ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp là phải đa dạng, linh hoạt trong công tác tuyển dụng; nâng cao mức thu nhập, đãi ngộ cho người lao động; cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin nhu cầu tuyển dụng cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương; tăng cường kết nối với các trường, cơ sở giáo dục, đào tạo nghề;...Đồng thời, các cấp chính quyền cần phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng lao động:

Một là,nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác dự báo, thống kê nhu cầu lao động để xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nguồn lao động có đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Hai là,đẩy mạnh việc phát triển nguồn cung lao động: Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp tại các trường THPT và cơ sở đào tạo nghề, khuyến khích học sinh, sinh viên theo học các ngành nghề đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp; Có chính sách hợp tác với các tỉnh có nguồn cung lao động dồi dào để mở rộng nguồn cung lao động, triển khai các chương trình đào tạo nghề và giới thiệu việc làm; Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tập trung vào các kỹ năng thực tiễn mà doanh nghiệp yêu cầu; Hỗ trợ học phí và cung cấp học bổng cho học viên các ngành nghề trọng điểm tại địa phương; Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp tổ chức đào tạo nội bộ; Phát triển các chương trình đào tạo kép, kết hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục để đào tạo lao động có tay nghề ngay từ khi còn học.

Ba là,nâng cao vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương: Xây dựng các chương trình kết nối giữa doanh nghiệp và người lao động thông qua tăng cường tổ chức các hội chợ việc làm, sàn giao dịch lao động; Nghiên cứu, xây dựng chính sách cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng, đào tạo lao động; Thành lập Bộ phận tiếp nhận thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp tại các điểm KCN có nhu cầu tuyển dụng lao động lớn để hỗ trợ lao động tại các KCN trong việc cung cấp thông tin về việc làm, chế độ phúc lợi và đào tạo nghề; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kết nối doanh nghiệp với người lao động; Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc quảng bá thương hiệu tuyển dụng, tạo sự hấp dẫn đối với lao động có tay nghề.

Bốn là, cải thiện cơ sở hạ tầng và điều kiện sống cho lao động: Tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông kết nối trong tỉnh và các tỉnh lân cận để thuận tiện cho việc di chuyển của người lao động; bố trí các tuyến xe buýt công cộng kết nối giữa các KCN và khu dân cư để giảm chi phí đi lại cho công nhân; Đẩy nhanh xây dựng các dự án nhà ở xã hội, ký túc xá công nhân với mức giá hợp lý; Phát triển các dịch vụ công cộng như trường học, bệnh viện, khu vui chơi, mua sắm nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho lao động; Đẩy mạnh phát triển các khu đô thị vệ tinh xung quanh KCN để thu hút lao động đến sinh sống và làm việc lâu dài; Xây dựng các trung tâm giải trí, thể thao và văn hóa dành riêng cho người lao động để tạo môi trường sống lành mạnh.

Năm là, nâng cao phúc lợi và điều kiện làm việc cho người lao động: Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn lao động; Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho lao động tỉnh ngoài để giảm bớt gánh nặng chi phí sinh hoạt; Khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chế độ đãi ngộ, thưởng, phúc lợi nhằm giữ chân người lao động; Phát triển các trung tâm tư vấn pháp lý để hỗ trợ công nhân trong các vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động, bảo hiểm và quyền lợi; Thúc đẩy các chương trình chăm sóc sức khỏe định kỳ cho công nhân tại các doanh nghiệp;...