Hoạt động giám sát sau cấp phép đối với các dự án đầu tư là nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện dự án và chấp hành pháp luật của các nhà đầu tư sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Thông qua hoạt động giám sát đầu tư giúp cho cơ quan nhà nước nắm bắt được tình hình thực hiện dự án; tình hình tổ chức khai thác, vận hành dự án; tình hình thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai, sử dụng tài nguyên khoáng sản,...; việc chấp hành quy định về giám sát, đánh giá đầu tư và chế độ báo cáo thống kê theo quy định; những khó khăn, vướng mắc phát sinh của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án,... để đôn đốc các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, đảm bảo đúng tiến độ, đúng quy hoạch và tuân thủ đúng các quy định pháp luật; đồng thời có biện pháp tháo gỡ, chấn chỉnh và xử lý kịp thời theo thẩm quyền, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp (KCN).
Trong những năm qua, bên cạnh việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tăng cường công tác giám sát, đánh giá đối với các dự án đầu tư trong các KCN trên địa bàn tỉnh thông qua nhiều cách thức khác nhau như: theo dõi thường xuyên tại hiện trường, qua báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất theo yêu cầu, qua báo cáo kết hợp với theo dõi định kỳ hoặc đột xuất tại hiện trường và thông qua thành lập Đoàn giám sát làm việc trực tiếp tại hiện trường.
Để nâng cáo hiệu quả trong công tác giám sát đối với các dự án đầu tư, Ban Quản lý các KCN tỉnh luôn xác định báo cáo tình hình thực hiện dự án của nhà đầu tư là nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác theo dõi dự án, đánh giá dự án đầu tư. Do vậy, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã đẩy mạnh việc hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp trong các KCN thực hiện nghiêm chế độ báo cáo hoạt động đầu tư, báo cáo giám sát, đánh giá dự án đầu tư định kỳ theo quy định. Trong thời gian qua, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tuyên truyền, đôn đốc để các nhà đầu tư biết, thực hiện. Trong đó, có việc tăng cường sử dụng các kênh mạng xã hội (Zalo, Facebook, Email,...) và đặc biệt Ban Quản lý các KCN tỉnh đã triển khai, thiết lập tài khoản đầu mối của doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử Ban Quản lý các KCN tỉnh để tăng cường sự liên kết, kết nối thông tin với các nhà đầu tư trong các KCN tỉnh, qua đó nâng cao hiệu quả trong công tác truyền thông, trao đổi thông tin được nhanh chóng. Để nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong tuân thủ trách nhiệm thực hiện báo cáo, Ban Quản lý các KCN tỉnh cũng đã kiên quyết không giải quyết, xử lý các thủ tục liên quan cho nhà đầu tư khi chưa hoàn thành khắc phục các tồn tại, hạn chế trong thực hiện công tác báo cáo hoạt động đầu tư, báo cáo giám sát đánh giá dự án đầu tư. Kết quả, tỷ lệ các nhà đầu tư thực hiện chế độ báo cáo về Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tăng dần qua các năm (năm 2022 khoảng 35%, năm 2023 khoảng 60% và đến năm 2024 đạt khoảng 70%).
Đồng thời, Ban Quản lý các KCN tỉnh cũng đã tăng cường công tác giám sát trực tiếp tại hiện trường đối với các dự án đầu tư. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến hết năm 2024, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tổ chức giám sát trực tiếp tại hiện trường đối với trên 180 dự án đầu tư. Bên cạnh đó, Ban Quản lý các KCN tỉnh cũng đã phối hợp chặt chẽ với các chủ đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng KCN để nắm bắt, cập nhật kịp thời thông tin về tình hình triển khai dự án của các nhà đầu tư trong các KCN. Qua công tác giám sát đối với các dự án đầu tư, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã hướng dẫn, đôn đốc và yêu cầu chủ đầu tư nghiêm túc khắc phục các hạn chế, thực hiện đúng các nội dung đăng ký tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình triển khai thực hiện dự án và hoạt động sản xuất kinh doanh tại các KCN trên địa bàn tỉnh; đồng thời kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý đối với các vi phạm của chủ đầu tư, cũng như có biện pháp hướng dẫn, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư. Những trường hợp dự án không có khả năng triển khai, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã yêu cầu Chủ đầu tư thực hiện việc chấm dứt hoạt động của dự án hoặc trực tiếp quyết định chấm dứt hoạt động trước thời hạn để giành đất tiếp nhận dự án mới vào đầu tư. Riêng trong giai đoạn từ năm 2022 đến nay, Ban Quản các KCN tỉnh đã ban hành thông báo chấm dứt hoạt động trước thời hạn đối với 24 dự án, trong đó có 08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 76,42 triệu USD và 16 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.721 tỷ đồng.
Nhìn chung, công tác quản lý, giám sát sau cấp phép đối với các dự án đầu tư trong các KCN của Ban Quản lý các KCN tỉnh trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được kết quả nhất định. Các dự án đầu tư trong các KCN tỉnh cơ bản đã triển khai thực hiện dự án theo đúng nội dung, tiến độ đăng ký. Đến hết năm 2024, số dự án đầu tư (bao gồm cả hạ tầng và thứ cấp) đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh là 498 dự án (chiếm 77% tổng số dự án đầu tư còn hiệu lực là 648 dự án), trong đó có trên 420 dự án đã cơ bản hoàn thành các nội dung đầu tư theo đăng ký; các dự án còn lại đều trong quá trình triển khai xây dựng, không có dự án chậm triển khai trong thời gian dài thuộc đối tượng phải chấm dứt dự án, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án trong các KCN trinh hết năm 2024 đạt 460 triệu USD và 5.020 tỷ đồng. Trong đó, vốn thực hiện của các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN là 110 triệu USD và 1.620 tỷ đồng; của các dự án đầu tư thứ cấp trong KCN là 350 triệu USD và 3.400 tỷ đồng. Lũy kế đến hết năm 2024, tổng vốn đầu tư thực hiện dự án FDI là 5.169 triệu USD, đạt tỷ lệ khoảng 70% tổng vốn đầu tư đăng ký (7.381 triệu USD) và dự án DDI là 42.340 tỷ đồng, đạt tỷ lệ khoảng 68% tổng vốn đầu tư đăng ký (62.437 tỷ đồng).
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác giám sát đối với các dự án đầu tư, trong thời gian tới Ban Quản lý các KCN tỉnh tập trung triển khai một số giải pháp sau đây:
Một là: Tập trung tổ chức rà soát, đánh giá toàn bộ hoạt động của các dự án đầu tư trong các KCN của tỉnh, đặc biệt là các dự án đang trong quá trình triển khai xây dựng, chưa đi vào hoạt động. Đối với các dự án triển khai chậm tiến độ quá 6 tháng so với nội dung đăng ký hoặc chậm đưa toàn bộ diện tích đất thuê vào sử dụng, Ban Quản lý các KCN tỉnh sẽ kịp thời ban hành văn bản đôn đốc hoặc tổ chức làm việc với nhà đầu tư để nắm bắt tình hình cụ thể, qua đó có biện pháp đôn đốc hoặc có giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc giúp dự án được triển khai thuận lợi, sớm đi vào hoạt động.
Hai là: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn và đôn đốc các nhà đầu tư thực hiện nghiêm chế độ giám sát, đánh giá đầu tư định kỳ, báo cáo hoạt động đầu tư định kỳ theo quy định của pháp luật và triển khai thực hiện dự án đầu tư theo đúng nội dung, tiến độ đăng ký.
Ba là: Tăng cường phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng KCN trong kiểm tra, theo dõi, đôn đốc các nhà đầu tư đưa đất vào sử dụng theo tiến độ đã giao kết trong hợp đồng thuê lại đất. Duy trì các buổi họp định kỳ giữa Ban Quản lý các KCN tỉnh và các chủ đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng KCN để kịp thời nắm bắt và giải quyết các khó khăn mà nhà đầu tư đang gặp phải.
Bốn là: Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong thanh tra, kiểm tra đối với các dự án để phát hiện kịp thời các sai phạm, qua đó nâng cao tính tuân thủ pháp luật của nhà đầu tư. Kiên quyết và có biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật đối với các dự án không triển khai, chậm tiến độ trong thời gian dài.
Năm là: Tăng cường công tác tự đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý sau cấp phép. Phân công cụ thể cho cán bộ chịu trách nhiệm giám sát dự án đầu tư theo nguồn vốn hoặc KCN. Nâng cao chất lượng xem xét, phân tích các thông tin, báo cáo của nhà đầu tư. Thường xuyên thu thập, cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu về tình hình thực hiện dự án đầu tư phục vụ kịp thời cho công tác quản lý nhà nước.
Nguồn tin: Phòng Quản lý Doanh nghiệp.